Bệnh xuất huyết do virus ở cá chép phòng bệnh và điều trị

Bênh xuất huyết do virus ở cá chép, từ lâu các ao nuôi cá chép ở Châu Âu đã bị bênh này. Hofer (1904) đã mô tả và đặt tên bênh xuất huyết do vi khuẩn

Bênh có nhiều tên gọi: bênh phù của bênh cá chép, bênh đốm đỏ cá chép, bênh viêm bóng hơi cá chép (Swim bladder inflammiation SBI), bênh virus mùa xuân (Spring virus disease). Theo Fijan và CTV, 1971 gọi là bênh virus mùa xuân họ cá chép (Spring Veremia of carp- SVC) do họ đã phân lập được một loại virus: Rhabodovirus từ cá chép bị bênh đốm đỏ (Infectious dropsy of carp-IDC). 

Tác nhân gây bệnh:

Bênh xuất huyết do virus ở cá chép, từ lâu các ao nuôi cá chép ở Châu Âu đã bị bênh này. Hofer (1904) đã mô tả và đặt tên bênh xuất huyết do vi khuẩn. Bauer và Fakto-novich 1969 vẫn đổng ý quan điểm bênh xuất huyết ở cá chép là vi khuẩn, bênh đốm đỏ (xuất huyết) lần đầu tiên được quan tâm ở Liên Xô cũ từ năm 1915; Otte, 1963 và nhiều nhà khoa học khác cũng đổng ý với quan điểm trên. Schaperclaus lần đầu tiên mô tả bênh xuất huyết năm 1930. Ở Đức Schaperclaus, 1979 vẫn thừa nhận bênh đốm đỏ mô tả từ năm 1927.

Bênh xuất huyết ở cá chép là bênh vi khuẩn đã được điều tra và ứng dụng phòng trị bênh ở vùng Tây Âu. Vi khuẩn được phát hiên là nhóm Gram âm từ các đợt dịch bênh, nhưng phòng trị bằng kháng sinh không đạt kết quả cao. Do đó tác nhân gây bênh không phải là vi khuẩn hoặc ít nhất nó cũng là loại vi khuẩn đặc biêt luôn luôn có mặt ở các đợt dịch bênh xuất huyết (đốm đỏ). Từ quan điểm đó một số nhà khoa học ở Đông Âu và Nga đã điều tra nghiên cứu và cho rằng bênh xuất huyết (đốm đỏ) có tác nhân gây bênh là virus và điều tra
sự biến đổi của môi trường và sự kết hợp giữa 2 tác nhân virus và vi khuẩn. Từ 2 dạng bênh xuất huyết cấp tính điển hình và dạng bênh mãn tính lở loét. Fijan và CTV, 1971 đã phân lập được tác nhân gây bênh là virus Rhabdovirus carpio. Tiếp theo là hàng loạt các nhà khoa học Châu Âu, Mỹ, Nhật và đi sâu nghiên cứu tác nhân gây bênh xuất huyết (bênh virus mùa xuân) ở cá chép và nhiều loài cá trong họ cá chép; cá mè trắng.

Dấu hiệu bệnh lý:

Trạng thái: Dấu hiêu đầu tiên cá ngạt thở, bơi ở tầng mặt, cá chết chìm ở tầng đáy, cá mất thăng bằng bơi không định hướng (bênh viêm bóng hơi)

Dấu hiêu bên ngoài: mang và da xuất huyết có thể ở cả mắt. Da có màu tối, những chỗ viêm có nhiều chất nhầy, mắt lổi nhẹ, mang nhợt nhạt, các tơ mang dính kết lại. Máu loãng chảy ra từ hậu môn.

Nội tạng; Bụng chướng to (hình 14A), trong xoang bụng xuất huyết có dấu hiêu tích nước (phù), bóng hơi xuất huyết và teo dần một ngăn (xem hình 14 B,C,D), lá lách sưng to, tim, gan, thận, ruột xuất huyết, xoang bụng có chứa nhiều dịch nhờn.

Phân bố và lan truyền bệnh:

Bênh chủ yếu gặp ở cá chép, chúng gây bênh từ cá giống đến cá thịt. Năm 1978-1979 xuất hiên bênh viêm bóng hơi ở cá chép Hung bố mẹ của Viên Nghiên cứu nuôi trổng thuỷ sản I và gây chết nhiều. Ngoài ra đã phân lập được virus R. carpio từ cá mè trắng, mè hoa, cá diếc (Shchelkunov và CTV, 1984), cá nheo hương (Silurus glanis) đã nhiều bênh tỷ lê chết hơn 90% (Fijan và CTV, 1984). Bênh xuất hiên ở Châu Âu, Liên Xô cũ, Bắc Mỹ, Trung Quốc, Viêt nam.

Chẩn đoán:

Dựa vào các dấu hiêu bênh lý và bênh thường xuất hiên vào mùa xuân và mùa thu. Bênh phát rất nhanh (bênh cấp tính), tỷ lê chết cao. Khi phân lập không có vi khuẩn và có các dấu hiêu bênh bên ngoài thì xác định dễ dàng là virus.

Nếu có điều kiên thì chẩn đoán bằng kháng huyết thanh, nuôi cấy virus...

Phòng bênh:

Có một vài biên pháp phòng bênh xuất huyết do virus ở cá chép (SVC), mỗi biên pháp đều có giới hạn, nhưng phổ biến là do sự hiểu biết chưa đầy đủ về nguồn gốc của virus và đặc điểm quản lý khi nuôi cá. Những phương pháp virus học chưa được nghiên cứu sâu về bênh xuất huyết do virus ở cá chép. Dù sao kháng thể trung tính cũng được xác định trong huyết thanh của cá bố mẹ là điểm đáng chú ý vì những kháng thể trung tính là đặc trưng cá chưa nhiễm virus hoặc nhiễm bênh chậm hơn. Khi nuôi cá chép ở sông, suối là nơi có nhiều cá tự nhiên (hoang dại) có thể bênh virus dễ xuất hiên. Một biên pháp sinh học cơ bản để phòng bênh là nhiêt độ bằng cách nuôi cá ở nhiêt độ cao hơn 2GgC. Vì những dấu hiêu thay đổi mùa vụ là đặc trưng giới hạn của bênh phát triển (bênh virus mùa xuân). Do đó khi phòng bênh cho cá, chúng ta có thể nuôi cá ở những vùng nước ấm vì tác nhân gây bênh ít xuất hiên.

Biên pháp phòng bênh bằng cách chọn giống những cá có sức đề kháng với bênh xuất huyết do virus có thể áp dụng đựoc, nhưng thực hiên biên pháp này không đại trà được. Từ năm 1962 Liên Xô cũ đã có chương trình chọn giống cá chép có sức đề kháng với bênh xuất huyết do virus đã xác nhận rằng tỷ lê sống khi nuôi cá chép giữa cá có sức đề kháng với bênh và cá dễ mắc bênh chênh nhau khoảng 3G% (Kirpichnikov và Faktorovich, 1972; Kirpichnikov và CTV, 1972). ở Vương quốc Anh đã tìm được dòng cá chép nuôi nội địa có 

sức đề kháng hơn cá chép hoang dại. Tỷ lê chết của cá chép hoang dại là 60-90% trong khi đó cá chép nuôi (nhà) tỷ lê chết không đáng kể (Hill, 1977).

Qua thực tế việc chữa và phòng bênh đối với bất kỳ một bênh virus ở cá thì biên pháp phòng bằng hoá chất không cho kết quả cao (gần như không có tác dụng). Biên pháp phòng bênh bằng miễn dịch có thể cho kết quả tốt hơn và đã thực hiên cho bênh xuất huyết do virus ở cá chép. Sự phát triển ngày càng mạnh về biên pháp phòng bênh bằng miễn dịch cho người và động vật nhưng đối với cá nó cũng bị giới hạn như khả năng miễn dịch theo tuổi của cá và nhiêt độ (cao hơn 200C) thuận lợi cho phản ứng miễn dịch của cá. Nhưng vacxin xét về mặt kinh tế chưa đáp ứng cho nghề nuôi cá như giá thành cao. Trong ao nuôi cá giống khó thực hiên được phòng bênh bằng vacxin.

024 66867068